Sáng tạo từ di sản
Sáng tạo từ di sản thế nào cho hợp lý, làm sao để tránh những biến tấu quá đà, làm thế nào tránh việc chiếm dụng văn hóa? Đó là câu hỏi mà tôi nhận được rất nhiều lần, từ rất nhiều người ở các buổi tọa đàm với sinh viên, giảng viên ở các trường cao đẳng, đại học, các cuộc hội thảo khoa học, các buổi trà dư tửu hậu.

Áo dài vẽ hoa văn cửu đỉnh của nhà thiết kế Nguyễn Thị Ngọc Lan. Ảnh: Hoàng Toàn
Chẳng hạn, trong buổi tọa đàm “Văn hóa bản địa: Từ di sản đến cảm hứng sáng tạo”, Thạc sĩ Lê Thị Thanh Nhàn – Trưởng ngành Thiết kế Thời trang, Khoa Mỹ thuật và Thiết kế, Đại học Văn Lang – đã chia sẻ rằng giới trẻ ngày nay rất quan tâm đến việc tìm hiểu chất liệu văn hóa dân tộc để sáng tạo. Nhưng đôi khi, do hạn chế trong việc tiếp cận văn hóa nguồn, các bạn có thể vô tình làm sai, ứng dụng chưa đúng. Bà mong rằng khi điều đó xảy ra, cộng đồng hãy góp ý với sự nhẹ nhàng và bao dung để người trẻ có thể chỉnh sửa, phát triển – bởi không chỉ văn hóa hay cộng đồng bản địa, mà cả tâm hồn của người sáng tạo trẻ cũng rất dễ bị tổn thương trước những tác động thiếu cân nhắc.
Quan điểm của tôi là chúng ta nên dành cho nhau sự độ lượng trong việc tiếp nhận các sản phẩm sáng tạo văn hóa.
Nhưng, câu hỏi đặt ra là nên độ lượng tới mức độ nào? Chắc chắn không phải là dung túng cho những cái sai, cho sự thờ ơ trong tìm hiểu, thiếu trách nhiệm trong minh định thông tin và bất công trong việc trao trả giá trị cho cộng đồng bản địa. Cũng không phải đòi hỏi cộng đồng bản địa phải dành sự độ lượng cho người vay mượn văn hóa, nhưng là sự độ lượng đến từ việc hiểu rằng người làm sáng tạo luôn có giới hạn nhất định khi tiếp cận những khía cạnh văn hóa phức tạp. Độ lượng để cởi mở với nhau, để thấy rằng văn hóa không phải bộ quy tắc cần gìn giữ một cách hà khắc mà còn là nguồn tri thức quý giá có thể giao thoa, thử nghiệm, từ đó tạo ra thêm những điều đẹp đẽ mới song song với việc tôn vinh những giá trị trường tồn đã có.

Con rồng trên Cao đỉnh, tranh khắc gỗ 20x30cm. Ảnh: Hoàng Toàn
Tôi cũng khuyến khích các bạn trẻ hãy sáng tạo bằng sự tôn trọng và hiểu biết, tránh phạm vào những điều cấm kỵ, còn lại thì cứ mạnh dạn thử và sai rồi chỉnh sửa và phát triển. Điều quan trọng nhất là làm mọi thứ với cái tâm trong sáng, với sự tò mò một cách chân thành và mong muốn mang lại giá trị đích thực, bền vững cho cộng đồng bản địa.
Có thể lấy ví dụ về cuộc đối thoại cũ – mới với dự án “Âm vọng – Từ họa tiết trên cửu đỉnh triều Nguyễn đến sáng tạo đương đại”.

Đa sách thuyền trên Cao đỉnh, tranh khắc gỗ 20x30cm. Ảnh: Hoàng Toàn
Năm 2022, với mong muốn tôn vinh và phát huy các giá trị di sản nghệ thuật của tiền nhân, nhóm giảng viên – họa sĩ và sinh viên trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam là: Trang Thanh Hiền, Trần Mỹ Anh, Vũ Phương Anh, Nguyễn Thu Nga, Trần Quốc Đức, Nguyễn Xuân Huy, Trần Nhật Nhi đã bàn nhau thành lập một dự án nhằm thực hiện một bộ tranh khắc gỗ về đất nước Việt Nam trên cửu đỉnh. Yêu cầu đặt ra là các bức tranh này không chỉ đơn giản là chuyển thể từ các tác phẩm đúc đồng trên cửu đỉnh, mà còn hướng tới sự tìm tòi về hình thức biểu đạt mới trong cái nhìn “đối thoại thẩm mỹ” giữa cái cũ ổn định và cái mới tiếp biến, giữa quá khứ và hiện tại. Hình thức này vừa dựa trên ngôn ngữ nghệ thuật khắc gỗ dân gian (như lối cắt mảng, tạo nét), vừa kết hợp với ngôn ngữ của nghệ thuật khắc gỗ hiện đại (như cách tạo không gian bằng chính những nét khắc, tạo mache) để tạo nên sự rung cảm khác biệt ở mỗi bức tranh.
Áo dài vẽ hoa văn cửu đỉnh của nhà thiết kế Nguyễn Thị Ngọc Lan. Ảnh: Hoàng Toàn
Dự án bắt đầu từ ước muốn của phó giáo sư, tiến sĩ, họa sĩ Trang Thanh Hiền. Bà mong muốn mọi người biết đến nhiều hơn nữa giá trị của những bản đúc nổi trên cửu đỉnh triều Nguyễn.
Đó là chín cái đỉnh đồng được vua Minh Mạng cho đúc năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16 (1835) để làm một biểu tượng về sức mạnh trường tồn của triều đại, về sự hưng thịnh của quốc gia Đại Nam. Trên mỗi đỉnh có 18 hình khắc, ngoại trừ một hình khắc tên đỉnh thì 17 hình còn lại là những hình ảnh mô tả cảnh vật, sản vật của đất nước. Tổng cộng có 153 hình ảnh đậm tính dân tộc, tính dân gian cùng tên gọi được khắc trên 9 đỉnh. Các hình này được phân thành các nhóm như: tinh tú, núi sông, cửa biển, lãnh hải, cửa ải, hoa cỏ, động vật, binh khí, xe thuyền… Cửu đỉnh đặt ở Thế miếu từ năm 1837 được coi là bộ sách địa dư của Việt Nam, với những địa danh, thắng cảnh tiêu biểu được giới thiệu đủ trên khắp ba miền, thể hiện một tư tưởng hòa bình, thống nhất đất nước. Tất cả các bức chạm khắc đúc đồng này như đã khái quát thành một bách khoa thư về một quốc gia Đại Nam giàu có và cường thịnh dưới thời Minh Mạng. Cửu đỉnh được xem là biểu tượng cho sức mạnh của triều đình nhà Nguyễn và là biểu tượng đỉnh cao của văn vật Đại Nam.
Cửu đỉnh là một trong những di sản văn hóa đặc biệt của triều Nguyễn. Cửu đỉnh là một kiệt tác điêu khắc của người xưa, là báu vật của đất nước. Ngày 01/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định công nhận bảo vật quốc gia (đợt 1) cho 30 hiện vật/ nhóm hiện vật, trong đó có cửu đỉnh. Ngày 8/5/2024, Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO đã ghi danh Những bản đúc trên chín đỉnh đồng ở hoàng cung Huế là di sản tư liệu.
“Quý giá như vậy nhưng nếu chỉ là những hình ảnh được khắc trên cửu đỉnh, thì ta phải đến Huế mới có thể thưởng ngoạn chúng. Do đó, tôi và các cộng sự của tôi là sinh viên, họa sĩ đã muốn biến chúng thành những bức tranh khắc gỗ, để có thể mang những hình ảnh này đi muôn nơi. Chỉ khi chúng được phổ biến rộng rãi, thì ý nghĩa về chủ quyền đất nước Việt, văn hóa Việt mới được hun đúc và tôn vinh trong đời sống đương đại,” bà Hiền nhớ lại.

Khán giả xem triển lãm “Âm vọng – Từ họa tiết trên cửu đỉnh triều Nguyễn đến sáng tạo đương đại” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội). Ảnh: Hoàng Toàn
Kỳ công trong suốt hai năm, nhóm tác giả đã thực hiện được 81 tác phẩm tranh khắc gỗ lấy cảm hứng từ hình mẫu 162 bức đúc đồng trên cửu đỉnh.
Và họ tiến thêm một bước: biểu đạt chúng bằng tranh in giấy dó, thêu trên trang phục, vẽ trên gốm sứ.
Nhà thiết kế Nguyễn Thị Ngọc Lan quyết định thực hiện bộ sưu tập Âm vọng & LanV trên chất liệu nhung, lụa tơ tằm, dùng chỉ tơ tằm óng ả thêu các hình ảnh đúc nổi trên cửu đỉnh. “Khi bắt đầu thiết kế, theo cảm nhận ban đầu của tôi, các hình được đúc nổi trên cửu đỉnh khá cứng ngay cả trong các mẫu hoa lá, mây, sóng nước. Nhưng càng ngắm nhiều, tôi càng cảm nhận được sự mềm mại ẩn chứa trong đó, và tất cả ghép vào nhau tạo nên một bức tranh tươi đẹp về đất nước Đại Nam thời bấy giờ,” nhà thiết kế Nguyễn Thị Ngọc Lan nói. Bà chọn những hình ảnh khá gần gũi như núi, cây cỏ, chim muông, hổ, báo… nhưng phối màu sắc và thiết kế lại cho phù hợp các form dáng áo dài, váy tiệc, áo chần bông… có kết hợp cùng một số họa tiết triều Nguyễn khác trên hoàng bào, tranh thờ để thêm phần phong phú.

Đĩa sứ Phúc Lai Thành vẽ tay họa tiết cửu đỉnh. Ảnh: Hoàng Toàn
Nguyễn Tiến Đạt, Phạm Tiến Thanh, các nghệ nhân của thương hiệu gốm sứ vẽ tay Phúc Lai Thành ở làng nghề gốm sứ Bát Tràng (xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội) cũng hào hứng như vậy. Nguyễn Tiến Đạt tâm sự rằng tham gia dự án ông như được sống trong dòng chảy văn hóa Việt, được cảm nhận sâu sắc về quê hương mình thông qua những gì đặc trưng là thân thuộc nhất của Việt Nam. Và lần đầu tiên ở Việt Nam, trên chất liệu gốm sứ – đồ gia dụng và đồ thờ, với những màu men lam, men hỏa biến, những hình ảnh từ cửu đỉnh triều Nguyễn được tôn vinh. Nguyễn Tiến Đạt bộc bạch: “Tôi có niềm tin rất lớn về những dự án như thế này sẽ luôn củng cố và làm giàu hơn văn hóa Việt.”
Lấy cảm hứng từ hình mẫu 162 bức tranh đúc đồng trên cửu đỉnh, cuối cùng, nhóm tác giả đã thể hiện thành 81 bức tranh khắc gỗ, in trên giấy dó kích thước 20 x 30 cm và 30 x 40 cm; 20 ván khắc gỗ; 21 tác phẩm gốm sứ; 10 bộ trang phục thêu trên chất liệu nhung, lụa.
“Di sản là sự tiếp nối với quá khứ. Trong một nghĩa nào đó, di tích nối người Việt với quá khứ và tương lai, cũng nối chúng ta với thế giới bên ngoài,” Tim Doling, thạc sĩ sử học người Ireland sống và làm việc ở Việt Nam, nêu quan điểm. Theo ông, “Chúng ta phải bảo vệ và bảo tồn các di sản, nghiên cứu lịch sử của chúng và sáng tạo những câu chuyện xung quanh chúng, bằng cách làm cho chúng là di sản sống, chứ không phải là di sản chết.”


